Giới Thiệu
Năm ấy làng tôi bị mất mùa, bà con đã khổ bây giờ lại càng khổ thêm. Thanh niên trong làng rủ nhau tứ tán khắp nơi tìm kế sinh nhai. Gia đình nào cũng chỉ còn nheo nhóc phụ nữ, người già và trẻ con.
Ông tôi sống bằng cái nghề thầy pháp, trừ tà bắt ma, bốc thuốc kiếm sống qua ngày. Nghe có vẻ oai lắm nhưng vất vả vô cùng. Hằng ngày mọi người đến bốc thuốc trị bệnh, số đông vẫn là người già và trẻ nhỏ. Ông không bao giờ lấy tiền của họ, ông bảo:
Họ già cả rồi sống bao lâu nữa đâu mà lấy tiền họ, với lại con cháu họ đi làm ăn xa lâu lâu mới gửi tiền về một lần thì tiền đâu.
Dân làng quý ông tôi lắm. Dù có nghèo có khó nhưng đã là cái nghiệp nên ông không bỏ được, âu cũng là cái thử thách trần đời. Trước nhà một phòng thờ nhỏ, ông bảo thờ âm binh ở đây để tiện cho việc giữ nhà và chống không cho âm binh của người khác vào nhà. Âm binh của ông chỉ sử dụng để làm việc giúp người chứ không hại người, ông nghiêm lắm nên binh của ông không bao giờ dám phá phách hù dọa ai.
Vụ Ma Trâu Ở Làng Bên
Độ tờ mờ sáng một ngày kia, có hai bác ở xóm trên chở một người thanh niên đang nằm trên chiếc xe ba gác qua nhà ông tôi. Cậu thanh niên tầm 17 tuổi, nước da trắng bệch, bụng trương lên như cái trống, đang mang cái áo cờ đỏ sao vàng dính đầy bùn đất.
Ông hỏi thì bác kia kể:
Con tôi hôm qua nó đi xem bóng với mấy đứa bạn ở làng bên, trên đường về cả đám tấp vào lề đường đi tiểu. Lúc đó nó vừa tiểu vừa chửi vì bị thua tiền, thì bỗng nhiên nó ngã ngửa ra đằng sau ôm bụng quằn quại. Nó bị tối qua đến giờ mà uống thuốc không hết, nhờ thầy xem giúp.
Nói rồi hai bác khiêng cậu thanh niên đặt xuống hiên nhà. Ông tôi lại kéo áo cậu thanh niên lên nhìn một lúc rồi chỉ tay vào hai vết bầm tím cứng ngắc trên bụng và nói:
Nó bị ma trâu, ma bò húc rồi. Mau về chuẩn bị một con gà trống, một cân thịt, một bó rau muống — tất cả đều phải luộc chín — cùng gạo muối, hoa quả, rượu rồi mang đến đây gấp.
Làng bên là làng mổ trâu nên ma trâu nhiều lắm.
Ông tôi ngồi xuống bắt đầu làm phép. Một lúc sau bác kia mang lễ đến, ông tôi bày biện lễ vật lên bàn thờ rồi bắt đầu cúng. Cúng xong ông lấy một bát nước lã, bỏ vào đó ít muối gạo rồi đọc thần chú, sau đó lấy ngón tay nhúng vào bát nước vẩy lên người cậu thanh niên.
Cậu thanh niên từ từ mở mắt ra, nhìn xung quanh ngơ ngác. Bụng xẹp dần. Màu da từ từ hồng hào trở lại.
Ông tôi quay sang bảo:
Xong rồi. Về nhà nằm nghỉ ba ngày, không được ra ngoài ban đêm, không được chửi bậy nhất là ở đường vắng, gặp cái gì không biết thì đừng có chọc vào.
Lễ Khao Binh Đặc Biệt
Chuyện khao binh là chuyện tôi chứng kiến từ hồi còn nhỏ. Cứ ba tháng một lần, ông tôi lại làm lễ khao binh cho đội âm binh nhà mình. Không hiểu sao ngày hôm đó ông lại dẫn tôi đi cùng đến một nhà hàng buffet ở thị trấn — cái thứ buffet hiếm lắm hồi đó, chỉ mới xuất hiện ở thị trấn.
Ông gọi một bàn riêng ở góc khuất, bày lên đó đủ các loại thức ăn trong buffet, từ cơm canh đến hoa quả. Ông ngồi xuống, khấn nhỏ một hồi rồi nói với tôi:
Ngồi im, đừng có nhìn ngó lung tung.
Tôi ngồi im như tờ. Một lúc sau ông đứng dậy, gọi nhân viên đến dọn bàn.
Trên đường về, tôi hỏi: “Ông ơi, sao ông khao binh ở đây vậy? Không phải khao ở nhà thờ à?”
Ông tôi cười:
Binh cũng phải được ăn ngon chứ. Ở nhà cúng mãi cũng chán. Lâu lâu dẫn đi ăn buffet cho đổi vị.
Tôi ngớ người: “Binh cũng ăn buffet được hả ông?”
Ông gật đầu nghiêm túc:
Âm binh cũng như người, cũng có sở thích. Mình đối xử tốt với họ thì họ mới làm việc tốt cho mình. Ông nuôi binh như nuôi người.
Lời Kết
Cái câu đó tôi nhớ mãi đến tận bây giờ. Ông tôi — người thầy pháp nghèo không lấy tiền của dân nghèo, nhưng ba tháng một lần vẫn dẫn đội âm binh đi ăn buffet — đó là cách ông đối đãi với những người vô hình mà ông tin là đang gánh vác công việc cùng mình.
Câu chuyện về ông thầy pháp làng quê và lễ khao binh bằng buffet là một minh chứng cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa con người với thế giới tâm linh trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Dù nghèo khó, ông vẫn giữ trọn đạo đức nghề nghiệp — không lấy tiền người nghèo, đối xử tử tế với âm binh — để rồi nhận lại sự kính trọng của dân làng và lòng trung thành của những người lính vô hình.