Phần 1: Thánh Vật Ở Sông Tô Lịch
Bài viết được trích nguyên văn từ báo Bảo vệ Pháp luật (ngày 31/3/2007) do ông Nguyễn Hùng Cường — Đội trưởng Đội xây dựng số 12 — tự tay viết. Nguồn: kinhdich.net.
Đây là phần đầu tiên chuyện trấn yểm sông Tô Lịch hay còn gọi là thánh vật sông Tô Lịch.
Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La. Đây cũng là nơi hợp thủy của 3 con sông, nổi tiếng với nhiều lời đồn trấn yểm của người Tàu và hàng trăm câu chuyện kỳ bí xung quanh.
Sông Tô Lịch là một sông cổ của tứ giác nước Thăng Long, vốn từng là một phân lưu của sông Hồng. Đến đoạn trung lưu, nó gặp hồ Tây (là dấu tích của đoạn sông Hồng cũ, nằm cạnh Quán Thánh). Từ cuối những năm 1990, Tô Lịch bắt đầu được nạo vét đáy sông, kè bờ, để làm sạch và chống lấn chiếm.
Bắt đầu vào tháng 06 năm 2001, Công ty liên doanh xây dựng VIC trúng thầu gói thầu 07 dự án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội. Công việc cụ thể là nạo vét và kè đá bờ sông Tô Lịch. Hàng loạt sự kiện kỳ lạ đã xảy ra…
Tác giả bài viết là ông Nguyễn Hùng Cường — Đội trưởng Đội xây dựng số 12 — trực tiếp chỉ huy thi công đoạn sông qua làng An Phú, phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy. Và mọi việc kỳ bí và đáng sợ bắt đầu từ đây.
Trước khi thi công, với tư cách chỉ huy công trường, tôi có mời ông Phạm Ngọc Anh — kỹ sư thủy lợi — làm chuyên viên kỹ thuật. Ngay ngày đầu tiên đi khảo sát thực địa, ông Anh phát hiện một ngôi đền rất lớn ở bờ sông phía An Phú. Đó là ngôi đền Quán Đới có từ thời Lý. Ông Anh nói luôn: “Cậu không nên nhận thi công đoạn sông này. Nguy hiểm lắm.” Rất ân hận, tôi đã không nghe theo lời khuyên này.
Ngày 15/8/2001, tôi vừa làm lễ trọng ở đền Quán Đới, vừa cho máy xúc, máy ủi xuống bờ sông khởi công. Vừa thắp được mấy nén hương thì tự nhiên lửa trong nắm hương cứ bùng lên cháy rực, đồng thời tự nhiên ngực tôi đau buốt. Mãi mới vẩy được lửa, cắm lên bát hương thì ngoài công trường báo về có sự cố.
Thì ra ngoài công trường sau khi đắp đê bơm nước ra, anh em phát hiện rất nhiều cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố trí rất lạ. Tôi chỉ huy cho máy nhổ cọc lên. Máy vừa nhổ được hai chiếc cọc, thì tự nhiên như có một lực gì đẩy, chiếc máy xúc từ từ trôi xuống sông, không có cách gì giữ được. Đồng thời đê ngăn nước vỡ, nước tràn vào ngập kín chiếc máy xúc.
Trong đống bùn mà máy xúc đã xúc lên có lẫn rất nhiều xương người, xương thú vật, rất nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ đồng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, tiền đồng, tiền cổ.
Biết là gặp chuyện lớn, tôi cho dừng thi công, yêu cầu công nhân gom tất cả đồ cổ, xương người lại và báo với Bảo tàng Hà Nội. Ông Phạm Kim Ngọc — Giám đốc Bảo tàng Hà Nội — và nhiều nhà khoa học đã đến hiện trường thu nhặt cổ vật mang về Bảo tàng.
Tối hôm đó, anh Hùng, người lái máy xúc nhổ cọc, đang khỏe mạnh vừa về đến nhà chợt lên cơn động kinh, mắt trợn, miệng sủi bọt mép, người cứ quay tròn như gà bị cắt tiết. Cả nhà anh Hùng biết có sự lạ, sắm lễ ra bờ sông vừa khóc vừa lễ. Thật sợ, lễ xong, đốt vàng mã được một nửa thì điện thoại ở nhà báo tin Hùng đã tỉnh lại.
Không biết làm cách nào, nghe bạn bè mách, tôi phóng xe đi Hải Phòng mời một thầy pháp nổi tiếng về trừ tà. Vừa nói chuyện với thầy, tự nhiên thầy trừng mắt: “Này, chỗ ấy âm khí nặng nề, sức tôi không trừ được.” Nằn nì mãi thầy mới đi về Hà Nội mà cũng chỉ dám làm lễ cầu an ở bờ sông và ngay đêm đó về Hải Phòng.
Mấy ngày sau, Bảo tàng Hà Nội tổ chức một hội thảo khoa học, hội tụ rất nhiều các nhà khoa học cả về sử học, bảo tàng, tâm linh. Kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng được chấp nhận: đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ thứ IX.
Tôi cùng anh em công nhân thu nhặt hết tất cả xương người liệm vào tiểu và chôn ở bờ sông, hàng ngày cắt cử người hương khói. Nhưng công việc không tiến triển được. Cứ đắp đê lên, lại vỡ. Anh em công nhân ở công trường thì luôn luôn mơ thấy ma quỷ và thường gặp tai nạn lao động.
Đến tháng 11/2001, nhờ tích cực vận động tôi đã mời được Thượng tọa Thích Viên Thành ở Chùa Hương về làm lễ cúng cho tôi ở hiện trường. Vừa đến hiện trường thầy đã ngồi xuống nhắm mắt niệm Phật. Niệm một lúc thầy đứng lên nói: “Đây là trận đồ trấn yểm rất nguy hiểm, vì các đệ tử thầy sẽ lập đàn tràng hóa giải.”
Sau đó thầy lập đàn tràng hóa giải ở bờ sông. Lễ xong thầy Thích Viên Thành nói với mọi người: “Mặc dù thầy đã cố hóa giải nhưng anh em phải cẩn thận, còn anh Cường thì phải chịu nhiều hậu quả, gia đình, anh em, con cháu cũng gặp họa.” Rồi buồn buồn thầy nói: “Vì cái đàn tràng này tính mạng thầy cũng khó giữ.”
Ba tháng sau thầy Thích Viên Thành hóa. Các đệ tử nói trước khi thầy mất, thầy còn nói thầy mất vì trận đồ trấn yểm ở sông Tô Lịch.
Nhưng công việc cũng không tiến triển được. Đê đắp lên là vỡ, kè thép không vỡ thì nước xối từ dưới lên. Đặt đá xuống thì đá chìm nghỉm. Để kiểm tra địa tầng tìm biện pháp thi công mới, tôi thuê một dàn khoan thăm dò đến khoan mấy mũi. Lạ thay cứ hạ mũi khoan xuống một đoạn là mũi khoan gãy. Ba lần như vậy họ lặng lẽ tháo dàn khoan đi mất, không cần đòi tiền.
Chiều chiều đứng bên bờ sông hoang vắng lòng tôi bỗng chua xót. Tôi có tội gì đâu mà thánh thần hại tôi đến nỗi này.